The antiviral activity of Callissia fragrans and Simnondsia chinensis aquatic and ethanol leaf extracts, as well as purified fractions from these extracts was studied against herpetic viruses in vitro. Ethanol extract of C. fragrans effectively inhibited the infection of Vero cells by HSV-1, HSV-2 in vitro, while its aquatic extract inhibited only VZV. Although S. chinensis leaf extract strongly inhibited all studied viruses, the selectivity index of this extract was very low, due to its high toxicity. However, the majority of its fractions showed low toxicity and higher antiviral activity and therefore very high SI. Strong interactions between virus and extracts were found.
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Canada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Những chất này còn có khả năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
Toàn cây chứa các chất có hoạt tính sinh học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ. Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch máu và tăng tác dụng của vitamin C. Những hoạt chất này còn có tác dụng giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết, được dùng để chữa lành vết thương, vết bỏng, vết bầm tím. Dân gian dùng làm phương thuốc chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể.
Hai chất flavonoid được xác định là quercetin và kaempferol. Quercetin là một chất chống oxy hoá tế bào mạnh, có khả năng kháng ung thư và tăng sức bền thành mạch, còn hữu ích trong trường hợp dị ứng, chảy máu thành mạch, viêm thận, thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh mắt và các bệnh nhiễm trùng. Kaempferol giúp củng cố mao mạch, nâng đỡ thể trạng, tăng sự đào thải nước tiểu và khả năng kháng viêm, được dùng chữa viêm nhiễm, dị ứng và bệnh đường tiết niệu. Hai chất này hợp đồng cộng lực, nhờ đó mà hiệu quả điều trị được gia tăng.
Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư.
Coi chừng tác dụng phụ
Tóm lại, cho dù đã được nghiên cứu nhưng đôi khi các kết quả vẫn chưa đủ để tạo chứng cứ khoa học cho một loại thuốc mới, nên vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để biết cách sử dụng, liều lượng, dạng thích hợp, không nên tự ý sử dụng và luôn nhớ một loại thuốc không thể chữa được nhiều bệnh cùng lúc.
MỘT SỐ CÁCH DÙNG CÂY LƯỢC VÀNG
Dạng dầu:
Cách 1: lấy toàn cây lược vàng đem ép lấy dịch, bã còn lại đem phơi khô. Khi đã khô thì bẻ vụn ra ngâm trong dầu ô liu, đậy kín trong khoảng ba tuần. Sau đó trộn chung và lọc qua gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thuỷ tinh màu, cất nơi mát.
Cách 2: cắt cây lược vàng thành những mảnh nhỏ rồi cho hết vào một nồi chịu nhiệt, rót dầu thực vật vào nồi rồi đem bỏ vào lò hầm ở 40oC trong tám giờ. Sau đó lọc qua gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thuỷ tinh màu, cất ở nơi mát. Loại dầu này được dùng trị bệnh ngoài da hoặc để xoa chữa các chứng viêm khớp, cứng khớp hoặc bôi để xoa bóp giảm đau toàn thân.
Dạng thuốc mỡ:
Cắt nhỏ toàn cây và nghiền nát trong cối. Sau đó trộn với vaselin hoặc bột kem nhão để tạo thành một hỗn hợp theo tỷ lệ 2 : 3. Cho khối thuốc mỡ vào lọ thuỷ tinh màu, để nơi tránh ánh sáng. Cách bào chế khác là ép lấy dịch chiết của cây và trộn với vaselin hoặc kem theo tỷ lệ 1 : 3, sau đó cũng cho vào lọ đậy kín, bảo quản nơi mát. Thuốc mỡ này được dùng để bôi lên các vùng da bị tê cóng, bầm tím, viêm loét da, và còn được áp dụng để chữa các trường hợp viêm khớp, cứng khớp và đau nhức.
Chú ý: nên chọn những cây có ít nhất 9 – 10 đốt trở lên (không ngắn dưới 20cm), và có màu tím sậm vì lúc đó hàm lượng chất kích thích sinh học trong cây đạt mức tối đa.
1/Dùng lược vàng + mật gấu trị ung thư bao tử
50gr lá cây lược vàng tươi giã nát chắt lấy nước cốt (hoặc ăn cả bã cũng tốt) +1 giọt mật gấu. Ăn sống ngày 1 lần lúc đói no đều được (đói tốt hơn), liên tục 1 tháng là khỏi bệnh.
2/ 50gr lá lược vàng tươi giã nát chắt lấy nước cốt (hoặc ăn cả bã cũng tốt) + 5 giọt dấm ăn làm từ chuối
Ăn sống trị mất ngủ, đái tháo đường, đầy hơi không tiêu, xơ gan cổ trướng, u gan lành tính, viêm ống dẫn mật, sỏi mật (dạng bùn), ngộ độc thức ăn, ho do viêm phế quản lâu ngày, do viêm họng, bệnh vảy nến, làm sáng mắt, bệnh bạch cầu, chứng cảm mạo phong hàn.
Dùng liên tục 5 ngày nghỉ 5 ngày uống tiếp. Thời gian sử dụng 1 tháng.
3/ Nhai nát 1 lá tươi vào buổi trưa sau khi ăn liên tục 5 ngày chữa:
– Đau đầu do thần kinh yếu.
– 5 ngày liên tục buổi sáng sau khi ăn sáng chữa sài đẹn ở con nít.
– Đắp 1 lần 10 – 20 phút lên vết bị bầm tím tan máu bầm.
4/ Ngâm rượu: 100gr lá tươi + đốt + mắt + 0,5 lít rượu trắng
Chữa phù thũng, bệnh mộng du, mất ngủ, táo bón, u nang buồng trứng, rối lọan tiền đình, cảm mạo phong hàn, yếu sinh lý, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh, kém trí nhớ (bệnh down), thần kinh phân lập (điên khùng do mất trí thông minh không phải bệnh do tà nhập), đục thủy tinh thể ở người già, ngủ thấy ác mộng do yếu thần kinh, vôi hóa đốt sống, đau khớp, nhức mỏi, suy nhược thần kinh, sỏi mật, viêm túi mật, viêm phúc mạc cấp, sạn thận, xơ gan cổ trướng, no hơi ăn không tiêu.
Lưu ý: mục 4 ngày uống 2 lần sau khi ăn, lần 1 muỗng canh, chỉ dùng liên tục 1 tháng vì tính hàn của thuốc. Nếu chưa hết bệnh phải dừng sử dụng thuốc 1 tháng sau đó mới uống tiếp.
5/ 50 gr cây màng màng (bòng bong) + 150gr lá tươi ngâm với 1 lít rượu trắng để chỗ mát 1 tháng
Dùng chữa ung thư (ác tính) bạch cầu, sài đẹn, mộng du, ngủ mơ thấy ác mộng, yếu sinh lý, liệt dương, hiếm muộn, xơ gan cổ trướng, dái nước, giang mai.
Uống 10cc (khoảng 1 muỗng canh/ lần) / 2 lần / ngày cho mỗi loại bệnh liên tục 10 ngày .
Lưu ý: kiêng ăn bắp (ngô), đu đủ ruột đỏ, cam, mít, nhãn nên ăn trái cây có nhiều dương như: dâu tây, ổi, mãng cầu xiêm, táo tàu khô (táo đỏ), khổ qua, mãng cầu ta, rau muống, canh mùng tơi nấu nấm rơm, yaourt, sữa chua (kefir).
6/ 2 lá lược vàng + 7 – 9 lá mùng tơi (nam 7 lá nữ 9 lá) giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống (hoặc ăn cả bã cũng tốt) vào buổi tối sau khi ăn liên tục 5 – 10 ngày
Trị các bệnh nóng gan do hỏa vượng, viêm gan siêu vi A,B,C, gan nhiễm mỡ, lở miệng do nóng, chống viêm loét ngoài da, ngủ thấy ác mộng do thần kinh yếu, chứng ra mồ hôi chân tay ở người lớn và đổ mồ hôi trộm ở trẻ em, đau đầu do yếu thần kinh, parkinson (chứng rung tay chân ở người già và người lớn dâm dục quá độ), đầy hơi ăn không tiêu. Riêng viêm gan siêu vi B,C phải dùng liên tục 1 tháng.
7/ 2 lá lược vàng + 10gr rau om (rau ngổ) tươi giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống (hoặc ăn cả bã cũng tốt) vào buổi sáng sau khi ăn liên tục 5 – 10 ngày
Trị các bệnh đầy hơi ăn không tiêu, nám da do gan nóng, kích thích tiêu hóa ăn ngon miệng ở người mới ốm dậy, tiêu mỡ ở người mắc bệnh béo phì, sài đẹn ở trẻ em, chứng mất ngủ ở người già, phì đại tuyến tiền liệt ở nam giới, gan nhiễm mỡ, hiếm muộn, máu nhiễm mỡ, cận thị, yếu sinh lý, xuất tinh sớm. Riêng các bệnh gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ phải dùng liên tục 1 tháng, nếu chưa hết bệnh ngưng uống 1 tháng rồi mới sử dụng tiếp tục cho đến lần thứ 3 là hết bệnh.
Lưu ý: kiêng ăn hải sản tôm cua mực, thịt bò.
8/ 2 lá lược vàng + 10gr bạc hà (rọc mùng) tươi giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống (có thể ăn cả bã lược vàng cũng tốt) vào buổi sáng sau khi ăn liên tục 10 – 15 ngày
Trị các bệnh đầy hơi ăn không tiêu, mất ngủ, ngủ thấy ác mộng do yếu thần kinh, khan tắc tiếng do cảm phong hàn, chứng điên khùng do thần kinh phân lập (không phải do tà nhập) – chỉ bớt bệnh điên khùng chứ không thể khỏi hẳn, rối loạn tiền đình, mộng du, đau đầu do yếu thần kinh, bổ thần kinh dẫn đến ngủ ngon đối với người già, ngủ nói lảm nhảm do yếu thần kinh.
9/ Một số nhận xét về tài liệu chỉ dẫn cách sử dụng cây lược vàng:
– Ngâm lá cây lược vàng với rượu thì tốt, nhưng ngậm rượu lá cây lược vàng thì "mùng màn méo" (méo mặt vì men răng bị mòn do lớp men tác dụng tốt với axít có trong rượu thuốc).
– Đun nấu (việc hãm lá lược vàng như hãm trà (chè) xanh) làm "méo" (giảm) tính chất của thuốc.
– Ngâm rượu ngắn ngày (15 ngày) như tài liệu nói trên chưa đủ thời gian để thuốc phát huy hết tác dụng có trong lá cây, chồi, mắt, mặt khác rượu chưa phân hủy hết men có thể gây hại do men rượu.
– Sử dụng bài thuốc như tài liệu hướng dẫn dài ngày (liên tục như tác giả trình bày) gây cảm mạo phong hàn do tính hàn (mát) của cây thuốc.
– Nhai lá tươi như theo tài liệu hướng dẫn có thể gây ngứa miệng, ngứa chân tay. Muốn tránh bị ngứa nên vò nát trước khi ăn.
– Cây lược vàng chỉ có thể có tác dụng chữa một số bệnh như Thầy chỉ dạy trong 8 bài thuốc nói trên chứ không phải chữa bá bệnh...
---
Quercetin /ˈkwɜrsɪtɪn/, một flavonol, là một flavonoid, nói cách khác, một sắc tố thực vật với một cấu trúc phân tử như hoặc có nguồn gốc từ flavone. Nó có mặt trong trái cây, rau, lá và ngũ cốc. Nó có thể được sử dụng như một thành phần trong chất bổ sung, đồ uống, thực phẩm.
Quercetin là một flavonoid phân bố rộng khắp trong tự nhiên. Tên gọi được sử dụng từ năm 1857, và có nguồn gốc từ quercetum - rừng sồi (oak forest), sau Quercus.
Kaempferol, các loại thực phẩm phổ biến có chứa kaempferol bao gồm: táo, nho, cà chua, trà xanh, khoai tây, hành tây, bông cải xanh, cải bruxen, bí, dưa chuột, rau diếp, đậu xanh, đào, mâm xôi, mâm xôi, và rau bina
Phytosterol có rất nhiều loại thực phẩm lành mạnh chứa nhiều phytosterol
Nhiều loại hạt chứa một lượng cao của phytosterol, dao động từ 95 đến 280 mg mỗi 100 g phần ăn các loại hạt. Các loại hạt có hàm lượng phytosterol cao nhất:
• Hạnh nhân - 187 mg mỗi 100 g phần ăn
• Quả óc chó - 113 mg mỗi 100 g phần ăn
• quả hồ trăn - 280 mg mỗi 100 g phần ăn
• Macadamias - 198 mg mỗi 100 g phần ăn
• pecans - 150 mg mỗi 100 g phần ăn
Mặc dù các loại trái cây và rau quả có thể chứa lượng thấp hơn so với các loại hạt phytosterol và ngũ cốc nguyên hạt, chúng còn chứa một loạt các vitamin, khoáng chất, chất xơ hòa tan, và các thành phần lành mạnh khác ...
• Bông cải xanh - 49,4 100 g phần ăn• Hành tây - 19,2 100 g • Cà rốt - 15,3 100 g phần ăn• Khoai tây - 5.1 cho mỗi 100 g phần ăn• mầm Brussels - 37 trên 100 g • Rau bina (đông lạnh) - 10,2 100 g phần ăn• Dâu - 10 trên 100 g phần ăn• Blueberry - 26,4 100 g phần ăn• Mâm xôi - 27,4 100 g phần ăn...
Phuong oi, cay nay co nhieu dac Tinh tot vay, hung dung cach nao moi chua duoc bệnh. Hom truoc chi trong no moc qua chung nhieu, khong dung de lam gi, cho nen nho bo lieng hét roi.
PKN
Sent from my iPhone
Cây Lược vàng có tên khoa học là
Callisia fragrans thuộc
họ Thài lài (
Commelinaceae), cây lược vàng còn có tên là
(địa) lan vòi,
lan rũ,
cây bạch tuộc,
lá phất dũ,
giả khóm. Toàn cây có chứa các chất có hoạt tính sinh học bao gồm flanovoid, steroid, và nhiều khoáng tố vi lượng, có lợi cho sức khỏe. Chất flanovoid có vai trò như vitamin P,
có khả năng làm bền mạch máu, và tăng tác dụng của vitamin C. Những hoạt chất kể trên có tác dụng giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết, được dùng để chữa lành vết thương, vết bỏng, vết bầm tím. Mặc dù được ca ngợi là loài cây chữa bách bệnh, tuy nhiên cũng chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh chính xác điều này.

Theo một số thông tin dân gian, cây lược vàng có nhiều công dụng chữa bệnh, trong đó có một số bệnh khó chữa. Đó là các chứng bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thoái hóa đốt sống cổ, viêm đại tràng mạn tính, viêm gan, táo bón, chảy máu dạ dày, tiểu đường, mỡ máu, thấp khớp, chấn thương trầy xước, bầm tím, viêm họng, viêm mũi, viêm thận, đau răng, loét lợi, eczema, sỏi thận, tai biến mạch máu não, u xơ tuyến tiền liệt, ung thư, đau lưng, bỏng, say rượu... Tuy nhiên công dụng của cây lược vàng vẫn chưa được kiểm chứng một cách khoa học cụ thể, chủ yếu là thông tin dân gian truyền miệng.
Basket Plant – (Callisia fragrans). Also known as золотой ус, or “golden whisker” in Russian
Callisia fragrans 081028-5309 | by Tony Rodd
Callisia fragrans, Spironema fragrans, Basket Plant, Golden tendril, Russian Holistic Medicinal Plant
Close-up of inflorescence, showing the small, white, fragrant flowers
The Basket plant is endemic to Mexico, and naturalized in the West Indies, scattered locations in the United States, and a few other places. It has been cultivated in many countries as an indoor ornamental since the early 1900s. However, it can be also found growing outdoors in warmer climates in moist, fertile soil. The herb likes partially shaded areas.
It has a rich folkloric reputation as an antiviral and antimicrobial plant. Especially in Eastern Europe, its leaves are used for treatment of various skin diseases, burns and joint disorders.
An ethanol leaf extract has been shown to effectively inhibit the infection of Vero cells by HSV-1, HSV-2 and an ACV-resistant strain of the latter, in vitro. The ethanol leaf extract, as opposed an aquatic extract, was however ineffective against VZV. Though the ethanol leaf extract had a lower selectivity index (toxicity vs. effectiveness) than ACV, it was able to inhibit the HSV-2 mutant, and may be less toxic than ACV. Direct interaction with the viruses and blocking of their access to the host cells seems to be involved.
ACV - aciclovir
HSV- Herpes simplex virus
VZV- Varicella zoster virus or varicella-zoster virus
Callisia fragrans - planta medicinala,
----------------------------------
Maclura tricuspidata Cây mỏ quạ còn được gọi là hoàng lồ, vàng lồ, xuyên phá thạch; Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur., thuộc họ Dâu tằm
柘
Cây bụi, thân mềm yếu, nhiều cành vươn dài tạo thành bụi, có nhựa mủ trắng, chịu khô hạn. Thân và cành có nhiều gai, gai già thường cong xuống giống mỏ con
quạ nên gọi là
cây mỏ quạ. Vỏ thân màu xám có chấm trắng. Rễ hình trụ có nhiều nhánh, mọc ngang rất dài, có thể xuyên qua đá nên có tên là
xuyên phá thạch. Lá mọc so le, hình trứng thuôn, hai đầu nhọn, mặt lá nhẵn bóng, mép nguyên. Cụm hoa hình cầu, đường kính 7-10mm, màu vàng nhạt, mọc thành đôi hay mọc đơn ở kẽ lá, màu vàng nhạt. Hoa đơn tính, đực cái khác gốc. Quả màu hồng hợp thành quả kép.
- Mùa hoa: tháng 4 - 5; mùa quả: tháng 10 - 11.
- Phân bố: Cây mọc hoang ở đồi núi, ven đường. Tuy nhiên, theo e-flora thì loài này không có ở Việt Nam[1], còn trên website của Đại học Huế thì cho rằng nó chỉ có ở vùng Chân Mộng, Vĩnh Phú
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét